Win rate và tỷ lệ lời/lỗ: cách tính ngưỡng hòa vốn
Win rate là tỷ lệ lệnh thắng trong tập lệnh được thống kê. Nó cần được đọc cùng lãi trung bình của lệnh thắng và mức lỗ trung bình của lệnh thua. Chỉ nhìn tỷ lệ thắng không cho biết tổng kết quả có dương hay không.
Bài này dùng ví dụ số học giả định, không phải kết quả của chiến lược trên ThanhBinhTrading. Để xem vai trò của các chỉ số khác, đọc bài tổng quan bảng kết quả.

Thống nhất cách đếm win rate trước
Nếu tập lệnh không có lệnh hòa, win rate bằng số lệnh thắng chia tổng số lệnh đóng. Nếu có lệnh hòa, cần nói rõ chúng được đưa vào mẫu số hay loại ra.
Ví dụ có 40 lệnh thắng, 50 lệnh thua và 10 lệnh hòa: tính trên 100 lệnh cho win rate 40%; chỉ tính 90 lệnh thắng/thua cho khoảng 44,44%. Cả hai phép tính đều cần ghi rõ quy ước trước khi đem so sánh.
Một lệnh được gọi là hòa theo giá vào/ra vẫn có thể âm sau chi phí. Khi đánh giá kết quả ròng, nên phân loại theo lãi/lỗ ròng đã thống nhất.
Công thức win rate hòa vốn
Xét mô hình đơn giản chỉ có lệnh thắng và lệnh thua. Gọi:
- p là tỷ lệ thắng dạng thập phân.
- W là lãi trung bình mỗi lệnh thắng.
- L là trị tuyệt đối lỗ trung bình mỗi lệnh thua, lớn hơn 0.
Trung bình mỗi lệnh có kết quả p × W − (1 − p) × L. Đặt kết quả bằng 0 và giải theo p, ta có:
p hòa vốn = L / (W + L).
Nếu q = W/L thì công thức tương đương là p hòa vốn = 1 / (1 + q).
| Lãi trung bình / lỗ trung bình | Win rate hòa vốn lý thuyết |
|---|---|
| 0,5 | khoảng 66,67% |
| 1 | 50% |
| 1,5 | 40% |
| 2 | khoảng 33,33% |
| 3 | 25% |
Bảng này giả định không có lệnh hòa và chưa có chi phí bổ sung ngoài những gì đã được phản ánh trong W và L. Nó không phải danh sách chỉ tiêu để chọn một chiến lược.
Tỷ lệ thắng cao vẫn có thể cho kết quả âm
Giả sử thắng 70% số lệnh, mỗi lệnh thắng lãi 0,3R và mỗi lệnh thua mất 1R. Trung bình giả định là 0,7 × 0,3 − 0,3 × 1 = −0,09R/lệnh.
Ngược lại, thắng 40%, lãi trung bình 2R và lỗ trung bình 1R cho 0,4 × 2 − 0,6 × 1 = +0,2R/lệnh, trước chi phí chưa tính. Hai ví dụ cho thấy phải đọc cả mức thắng và mức thua, chứ không tìm win rate cao nhất.
Chi phí làm thay đổi ngưỡng hòa vốn
Nếu W và L chưa bao gồm chi phí, giả sử chi phí trung bình là c cho mỗi lệnh, cùng đơn vị với W và L. Khi đó:
Kết quả trung bình = pW − (1 − p)L − c.
Ngưỡng hòa vốn trở thành p = (L + c) / (W + L). Ví dụ W = 2R, L = 1R và c = 0,1R cho ngưỡng khoảng 36,67%, thay vì 33,33%.
Không trừ thêm c nếu W và L đã là kết quả ròng chứa chính khoản chi phí đó. Khi chi phí từng lệnh khác nhau hoặc có lệnh hòa, tính trực tiếp từ nhật ký đầy đủ sẽ rõ hơn.
Tỷ lệ chốt lời dự kiến khác tỷ lệ đạt được
Đặt take profit 2R không bảo đảm mọi lệnh thắng đạt 2R. Thoát theo tín hiệu, dời cắt lỗ, chi phí và cách khớp lệnh có thể khiến trung bình thực tế khác mục tiêu.
Sau khi chạy Backtest, dùng lãi/lỗ thực tế trong nhật ký để tính lại. Đọc thêm profit factor để phân biệt tỷ lệ tổng lãi/tổng lỗ với tỷ lệ hai mức trung bình.
Công thức hòa vốn mô tả quan hệ số học trong một mô hình. Win rate đo được từ quá khứ vẫn là ước lượng của mẫu đã xem, không phải xác suất thắng chắc chắn cho lệnh tiếp theo.
Bài trước: Backtest và forward test khác nhau thế nào? Bài sau: Kỳ vọng lợi nhuận mỗi lệnh là gì? Cách tính theo R